Phát triển bền vững tầu thuyền khai thác hải sản xa bờ

Chương trình đánh bắt xa bờ được Chính phủ triển khai từ năm 1997, đã khởi động cho hoạt động vươn ra biển lớn của đội tàu đánh bắt hải sản Việt Nam. Từ số vốn đầu tư hơn 1.300 tỉ đồng, đóng trên 1.000 tàu cá xa bờ, đến nay đội tàu cá Việt Nam đã có hơn 16.000 chiếc.

Xuất phát từ chương trình này, ngành thủy sản nước ta đã có nhiều thay đổi lớn và đạt được nhiều thành công đáng kể như: số lượng, công suất tàu thuyền lớn tăng nhanh, sản lượng và hiệu quả khai thác cũng tăng cao, đầu tư khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại (máy thông tin liên lạc, máy dò cá, hầm bảo quản, thiết bị làm lạnh và cấp đông, hệ thống quản lý qua GPS và GIS,…). Tuy nhiên, chương trình này đã không đem lại hiệu quả cao vì trong lúc triển khai còn gặp nhiều vướng mắc như chọn chủ dự án đầu tư không đúng đối tượng; lập và phê duyệt dự án không đúng thực tế; đăng ký, quản lý tàu còn nhiều yếu kém và bất cập nên sau đó bị tạm dừng…

Trong những năm gần đây, trước tình hình ngư dân Việt Nam thường xuyên bị tàu Trung Quốc gây hấn, bắt giữ một cách vô cớ khi đang hoạt trong vùng biển đặc quyền kinh tế nước ta,  cần có các giải pháp tiếp sức cho ngư dân bám biển và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Một trong những giải pháp trọng tâm là tập trung phát triển tàu cá có công suất lớn (90 CV trở lên), lấy nhóm tàu công suất lớn làm động lực phát triển (đặc biệt là nhóm tàu có công suất >300 CV), đẩy mạnh vận động thành lập các mô hình liên kết hợp tác dưới các hình thức: đội tàu, tổ tự quản trên biển, các nhóm sản xuất có sự tham gia của ngư dân, doanh nghiệp và nậu vựa nhằm gắn kết các khâu khai thác – dịch vụ hậu cần – thông tin ngư trường, thị trường – bảo vệ ứng cứu trên biển qua đó tăng thời gian bám biển, giảm thất thoát sau thu hoạch, bảo đảm hài hòa lợi ích khi tham gia sản xuất.

Trang thiết bị, thông tin liên lạc: Khi hình thành các tổ, đội tàu khai thác xa bờ thì việc trang bị các máy thông tin liên lạc (máy Icom) sẽ dễ dàng hơn, giúp cho việc nắm bắt thông tin về ngư trường, thời tiết – bão gió giữa tàu với đất liền và ngược lại được tốt hơn; đồng thời việc liên lạc ứng cứu, giúp đỡ giữa các tàu hoạt động trên biển khi có tai nạn hay bị tàu nước ngoài gây rối được tăng cường.